Cuộc Đời Thánh Tăng Ananda (phần 1)

Chư tăng, ni các chùa truyền thống đến ngày mồng một, rằm âm lịch mỗi nửa tháng trong lễ lạy thù ân đều xướng danh hiệu: "Nam mô Khải giáo A Nan Đa tôn giả"

 Thánh Tăng Ananda 

Lời Ngỏ

Chư tăng, ni các chùa truyền thống đến ngày mồng một, rằm âm lịch mỗi nửa tháng trong lễ lạy thù ân đều xướng danh hiệu: "Nam mô Khải giáo A Nan Đa tôn giả". Ngài là vị đệ tử số một của đức Phật trong số mười vị có biệt tài xuất chúng, và là một bậc đại thánh tăng.

Để hàng Phật tử học hỏi, chiêm ngưỡng noi gương Ngài, Pháp Bảo cho ấn hành tác phẩm " Cuộc Đời Thánh Tăng A Nan Đà" này 1000 cuốn, nhân dịp lễ vía đức Phật Thích Ca nhập Niết Bàn Rằm tháng Hai âm lịch, gởi tặng quý đọc giả bốn phương, như món quà nhỏ quí đầu năm Ất Hợi.

Xin tùy hỷ công đức pháp thí quý đạo hữu Phật tử đã góp một phần nhỏ trong việc ấn loát, trợ duyên tiến trình tu học tịnh hóa thân tâm, giải thoát nghiệp chướng lầm mê.

Cầu nguyện pháp giới chúng sanh giải trừ ác nghiệp; luôn được an lạc giải thoát tự tại trong suối nguồn từ bi vô lượng của chư Phật, các bậc Bồ Tát Đại nhân.

Úc Đại Lợi ngày vía Phật nhập Niết Bàn
15 tháng 2 Ất Hợi (15-3-95)

Lời Giới Thiệu
Sống ở xã hội Âu Mỹ mà giữ được tâm niệm phục vụ văn hóa Đông Phương, là một điều tương đối ít người Á Châu tình nguyện làm. Càng ít hơn nữa là nhận lấy công tác soạn dịch một số kinh sách Phật Giáo, mà không cầu lợi nhuận!

Khi 'diễn đạt', dịch giả đã phải tự sống bằng hai con người khác nhau: Con người thứ nhất là 'đồng hương' của nguyên tác, để cố gắng ĐỌC và HIỂU tối đa nội dung cuốn sách. Và con người thứ hai là 'kẻ khác ngôn ngữ' với nguyên tác, để diễn đạt lại những phần hay, những nét chính, một cách trong sáng, ra Việt ngữ, cho đồng bào mình đọc.

Những điểm đáng giới thiệu hơn hết là 'chỗ đứng' của dịch phẩm trong muôn ngàn cuốn sánh Việt ngữ. Chúng tôi muốn nói đến sự cần thiết của một bản dịch làm tài liệu, bao giờ cũng 'độc đáo' hơn, nếu dịch phẩm ấy trước giờ chưa được ai thực hiện. Và cho đến nay, trong tủ sách Phật đã chẳng có nhiều chi cho lắm! Nếu không muốn nói dịch giả tập sách nầy là người đầu tiên đã nhận lãnh công tác ấy!

Chúng tôi nhận thấy trong số 12 tác phẩm (vừa dịch, vừa soạn, và vừa sáng tác) của dịch giả ấn tống, đã có đến 6 cuốn sau đây, nói về Chư Đại Đệ Tử Phật.

- Cuộc Đời Đức Xá Lợi Phất

- Lịch Sử Đức Mục Kiền Liên

- Cuộc Đời Thánh A Nan Đà

- Gương Lành Thánh Đại Ca Diếp

- Tu Đà Cấp Cô Độc

- A Nậu Lâu Đà

Chúng tôi hân hạnh giới thiệu dịch phẩm A Nan Đà thuộc loại THANH VĂN SỬ nầy đến chư vị Phật tử xa gần.

Sa Môn THÍCH HỘ GIÁC
(Nguyên Giám đốc Phật Học Viện Pháp Quang và Giáo sư Pali Viện Đại Học Vạn Hạnh, Sài Gòn)

LỜI NÓI ĐẦU

Trong hàng Phật Giáo, có nhiều vị đại tông đồ rất đáng cho hậu thế noi gương! Một trong những vị đại tông đồ ấy là Thánh Tăng A Nan Đa một cái tên đã chiếm trọn vẹn sắc thái phổ thông trong kinh điển đạo Phật!

Khi các hàng Phật tử Bắc Tông cũng như Nam Tông, tại gia cũng như xuất gia bắt đầu tụng một thời kinh, là cái tên A Nan Đa thường được họ tuyên đọc. Chẳng hạn như: ''Ta là A Nan Đa, có nghe như vầy: Một thuở nọ, đức Phật ngự tại Kỳ Viên Tịnh Xá v.v...''

Vì vậy, viết về A Nan Đa là viết về một thánh tăng mà đời sống ''chứa'' nhiều Phật Giáo nhất! A Nan Đa không những là một đại Hộ Pháp, có công lưu truyền giáo lý của đấng Toàn Giác cho đời sau, mà ông còn là một vị A La Hán Phật, bậc đã có vô số kiếp trước tái sinh và trau dồi phẩm hạnh, song song với công phu độ đời của tiền thân Phật tổ Thích Ca Mâu Ni!

Đây là cuốn sách thứ 3 trong loạt phiên dịch ra Việt ngữ, lịch sử của các đại tông đồ đức Phật. Hai cuốn đầu là ''Cuộc đời đức Xá Lợi Phất'' và'Lịch Sử đức Mục Kiền Liên' đã được tái bản và ấn tống cách đây không lâu.

Riêng cuốn ''Cuộc đời Thánh Tăng Ananda'' này dịch giả xin phép vừa dịch, vừa soạn (dựa theo kinh điển Pali) để bổ túc một cách vừa phải những chỗ quá gọn, khó hiểu trong nguyên bản anh ngữ của bà Khema, vì bản anh ngữ ấy vốn cũng lại được dịch từ một tập sách tiếng Đức của học giả Hellmuth Hecker, đã biên soạn cách nay mấy mươi năm.

Dịch giả cố gắng làm tròn bổn phận của một Phật tử luôn luôn tôn thờ ba đức an lành là Phật Pháp Tăng. Trình độ hiểu biết của một phật tử tại gia như chúng tôi cho dù có được đào tạo căn bản trong các Phật học viện lớn một thời gian đi nữa, thì bao giờ cũng còn tương đối. Nếu có điều chi sơ sót ngưỡng mong chư vị cao tăng, học giả niệm tình bổ túc cho! Dịch giả xin hết lòng cảm tạ!

Cuốn sách này ra đời là nhờ sự khuyến khích phiên dịch và nhờ sự hảo tâm hùn phước ấn tống của một số Phật tử.

Dịch giả xin chân thành chia đều phần phước ''Pháp Thí'' này đến tất cả quý vị ấy cũng như đến tất cả chúng sanh, nhất là đến 2 đấng sinh thành và các bậc hữu ân, thầy tổ của dịch giả.

Nguyện cầu cho dân tộc Việt Nam sớm thoát khỏi cảnh khổ, và chúng sinh, nhân loại đừng oan trái lẫn nhau.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

NGUYỄN ĐIỀU
(Paris ngày 11/8/1991)

A Nan Đa (Một kho tàng pháp bảo)

Vị đại đệ tử được nhắc đến nhiều nhất trong những kinh Phật là Tôn Giả A Nan Đa! Thánh tăng này chiếm một địa vị độc đáo trong hàng những đại tông đồ của Phật Tổ Thích Ca!

- Và với tất cả sự ngưỡng mộ tính cách độc đáo ấy mà soạn giả xin cống hiến đến chư Phật tử một sử liệu quý giá hầu làm gương cho ngày sau, xuyên qua những trang sách này!

S.G.

1. PHÚC DUYÊN LÀM NGƯỜI

Phẩm vị đặc biệt của Ananda trong hàng các đại Thanh Văn giác của đức Phật đã bắt đầu từ xa xưa, trước khi bước vào kiếp chót.

Cũng như đức Phật A Nan Đa đã giáng sinh từ cõi trời Đâu Xuất (Tusita) và sinh ra cùng ngày, đầu thai vào cùng vai cấp (hiệp sĩ) trong hoàng tộc Thích Ca, song song với đức Phật!

Hai thân phụ của đức Phật và của Ananda vốn là anh em, nên Ananda đối với đức Thế Tôn đương mhiên ở vàođịa vị huynh đệ (chú bác). A Nan Đa có ba anh em là Anuruddha, Mahànàma, Pandu và một em gái Rohini.

Anuruddaha xuất gia như Ananda, rồi nghiêm trì giới luật, phát triển trí tuệ giải thoát, đã đắc quả A La Hán, một hạng thánh tăng cao nhất. Thánh A La Hán còn được gọi là thánh Bất Lai, vị bậc thánh nầy, sau khi mạng chung sẽ được giải thoát, không còn luân hồi nữa.

Tiếp theo là Mahànàma, tuy ở ngôi cư sĩ thái tử để duy trì giòng dõi Thích Ca (Sakya), nhưng cũng đắc quả A Na Hàm (tức quả Nhất Lai, hay quả Thánh chỉ còn sinh lại một lần nữa, rồi được giải thoát!)

Trong khi đó thì Pandu, người con trai còn lại trong gia đình, không thấy sử nói đến nhiều, chỉ ghi tóm tắt rằng ông là người duy nhất sống sót của giòng họ Thích... Khi đức Phật thọ 80 tuổi.

Riêng người em gái duy nhất của A Nan Đa là Rohini, vì dư quả của tính ganh tị từ tiền kiếp, đã chịu bệnh phong ở ngoài da, trầm trọng, đêm ngày khổ sở ẩn thân trong phòng kín cho đến khi được Phật độ, chỉ rõ ấy là quả xấu của các ác nghiệp từ đời trước. Khi được Phật khai ngộ, bà cũng thành tâm tu hành, về sau đạt tới thánh quả Nhập Lưu Tu Đà Hoàn (Sotàpattimagga) tức là buớc vào con đường chắc sẽ giải thoát!

Kinh truyện chép: Rohini lúc bước vào Thánh Lưu thì tự nhiên lành bệnh, và khi mãn tuổi thọ, chết sanh vào cỏi trời thứ 33 làm vợ của Vua Trời Đế Thích (Sakka).

Theo Cùla-Vagga thuộc tạng luật (Vinaya Pitaka), quyển V III Chương 1 thì A Nan Đa được 37 tuổi, khi ông cùng Anuruddha và người anh họ Devadatta (Đề Bà Đạt Đa) với một số thanh niên quỶ tộc Thích ca cùng bước vào đời sống xuất gia.

Vị thầy đã làm phép xuất gia cho A Nan Đa là Thánh A La Hán Belatthasìsa. Nhưng Pháp Bảo của bậc đạo sư này lưu lại trong tam tạng rất ít. Chúng ta chỉ tìm thấy vỏn vẹn có mấy câu kệ sau đây:

''Như thân phận làm trâu trong khổ cảnh...
Dù trên vai mang nặng một chiếc cày.
Nhưng vẫn cố tiến lên từng bước mạnh.
Thì Sa Môn xin chớ ngại gian nguy.
Ngày với tháng chính là tầm thước Thánh,
Do chiều cao công đức kẻ tu trì...''
(Thoát dịch theo Theregathà, tôn túc kệ ngôn số 16)
Chỉ bằng sự hướng dẫn đơn giản và sâu xa của bài Thánh kệ đó, mà A Nan Đà đã mỗi ngày một trở nên thuần thục trong giới luật phạm hạnh. Ông là một đệ tử chuyên cần và luôn luôn cảnh giác, nên chỉ trong mùa nhập hạ (1) đầu tiên, ông đã đạt được quả Nhập Lưu (theo Cùla Vagga VII, 1)

(1) Mùa nhập hạ là thời gian các hàng đệ tử xuất gia của đức Phật phải ở yên một chỗ để nghiêm trì giới hạnh và hành thiền. Đức Phật đã chế ra sự nhập hạ này đúng vào mùa mưa (tính theo thời tiết Ấn Độ, khoảng từ đầu tháng 7 đến cuối tháng 9 dương lịch).Truyền thống nhập hạ này đã được ghi trong tạng luật và được mọi tông phái Phật giáo thi hành cho đến ngày nay. (Tuy có sự chênh lệch thời tiết mùa mưa của từng quốc gia).

Sau khi xuất gia, một hôm A Nan Đa mách với các đồng đạo rằng: ''Trưởng Lão Punna Mantàliputta đã giúp cho ông tiến bộ rất nhiều trong việc tu tập. Trưởng lão đã truyền pháp đến những tỳ khưu mới nhập môn, trong đó có ông, bằng cách giảng giải cho họ hiểu rõ: Sự cố chấp trong cái Tôi chỉ sinh ra xuyên qua hai trợ nhân là danh và sắc (tư duy và hình tướng), tức là xuyên qua hình thức và cảm nghĩ. Nói cách khác là xưyên qua trình độ của tư duy và tình trạng của sắc thái!

Để cho dễ hiểu hơn, trưởng lão Punna nêu lên một thí dụ: '' Nếu một người muốn biết mặt mũi của mình ra sao, hay muốn nhìn thấy hình dạng của chính họ như thế nào, thì họ phải soi mặt vào gương, hay trong hồ nước phẳng, lặng...! Tương tự như thế, khi năm uẩn (hay còn gọi là ngũ uẩn (1) tạo thành một con người thì nó chỉ để lộ bộ mặt chấp ngã của nó xuyên qua hình tướng và tư duy, tức là DANH và SẮC mà thôi!...'

(1) Ngũ uẩn: Sắc-uẩn, Thọ-uẩn, Tưởng-uẩn, Hành-uẩn và Thức-uẩn. Năm uẩn nầy còn được gọi chung là Danh và Sắc, Sắc gồm hai uẩn đầu (sắc, thọ). Danh gồm ba uẩn sau (Tưởng, Hành và Thức!)

Hể sáu căn (hay còn gọi là lục căn), tức Nhãn-căn, Nhĩ-căn, Tỉ-căn, Thiệt-căn, Thân-căn, và Ý-căn, trong một cá nhân mà còn cột chặt vào danh và sắc, tức là còn cấu kết với hình tướng và tư duy, thì tất nhiên có cái ''Tôi'' hiện ra! - Và khi nào sáu căn không còn được nuôi dưỡng bằng hình tướng và tư duy nữa thì khi ấy cái ''Tôi'' mới biến mất (theo Samyutta Nikàya 22, 83 = Tạp A-Hàm số 22, 83)

A Nan Đa suy gẫm về sự so sánh nầy một cách lập lại nhiều lần và càng lúc càng sâu sắc hơn, cho đến khi ông giác ngộ được Khổ đế (dukkhàriyasacca), lẽ vô thường (aniccà) và lý vô ngã (anattà). Rồi ông không còn để cho nội tâm của mình bị ''nuôi dưỡng'' bằng năm uẩn (hay DANH và SẮC) ấy nữa, để ông bắt đàu gặt hái quả của đời sống Phạm Hạnh, trước tiên là phẩm Nhập Lưu Tu Đà Hườn!

Từ đó A Nan Đa luôn luôn tri túc và an tịnh với đời sống Sa Môn. Ông nhận rõ cái an lạc của hạnh chối bỏ (ám chỉ sự đạm bạc trong đời sống xuất gia!), và mạnh tiến trên thánh đạo, ví như một kẻ đang lênh đênh giữa biển cả, sung sướng tìm dược hướng vào bờ chỉ nương vào cái phao duy nhất là đức tính cảnh giác hay biết mình!

(Theo kinh Thập Độ Ba La Mật = Dasapàramitàsutta, thì dòng suối luân hồi chỉ bị chận lại bằng ba cái bờ, là bờ kia, bờ trên và bờ cao thượng. Các hàng xuất gia hay tại gia, mà đắc được hạnh tri túc, cắt cụt được lòng tham, tức là thấy được BỜ-KIA vậy!)

Vào những năm đầu của đời sống Sa môn, A Nan Đa đã dành hết thì giờ vào việc thanh tịnh nội tâm. Ông đã hóa mình rất dễ dàng vào cộng đồng tăng lữ, rồi ông dần dần phát triển sức mạnh tinh thần một cách nổi bật. Khi đức Thế Tôn và A Nan Đa cả hai được 55 tuổi, một hôm Phật cho triệu tập tăng chúng, và dạy rằng:

''- Trong 20 năm trường hướng dẫn cộng đồng phạm hạnh, Như Lai đã được nhiều đệ tử thay phiên thân cận, nhưng chưa có một môn đồ nào tình nguyện trọn đời hầu Phật một cách dứt khoát! Như Lai tự biết mình sẽ có một đệ tử như thế! Và giờ đây Như Lai đã 55 tuổi, xác thân nầy như cổ xe đang bước vào giai đoạn hư hại, Như Lai cảm thấy cần nói ra để vị đệ tử hầu cận ấy tự động xuất hiện!...'

Ðức Phật vừa dứt lời thì lập tức tất cả những đệ tử nhiều hạnh kiểm nhất liền tình nguyện được hầu Phật.

Nhưng đức Thế-Tôn đã hiền hòa từ chối, rồi Ngài yên lặng...

Cử chỉ ấy của Ðức Phật biểu lộ một ý nghĩa đặc biệt. Toàn thể những đệ tử có mặt liền nghĩ ngay đến A Nan Ða, lúc đó đang ngồi ở một chỗ khiêm nhượng, phía sau cả hàng trưởng-lão, và ông là người duy nhất chưa xung phong xin hầu Phật! Rồi họ đồng hướng về A Nan Ða, yêu cầu ông bước lên phía trước.

Do hạnh duyên chín mùi, qui tụ từ nhiều tiền kiếp, A Nan Ða là người duy nhất sẽ đóng vai trò vị tông đồ hầu cận Phật. Nhưng có một số phàm tăng, chưa đạt được huệ thanh tịnh, tỏ ra ngạc nhiên đặt câu hỏi '' Tại sao A Nan Ða không có mặt trong số những đệ tử đầu tiên xung phong hầu hạ Phật?!''

A Nan Ða lễ phép trả lời:

''Ðức tin của tôi vốn trao trọn vào sự sáng suốt hoàn toàn của Ðấng Toàn Giác. Tôi muốn được chiêm ngưỡng ý Phật từ bi biểu lộ! – Dù trong thâm tâm tôi vốn tình nguyện đảm nhận trách nhiệm ấy từ lâu, vì một người trong giòng họ Thích ca đóng vai hầu hạ vị Giáo chủ Phật Giáo, sẽ tránh cho người đời thuộc các giai cấp khác, bất mãn đức Phật. Nhưng tôi không dám sỗ sàng như thế, bởi Ðức Thế Tôn là bậc thấu rõ mọi nhân duyên. Chỉ có Ngài tự chọn lựa viên đệ tử hầu cận là chắc chắn nhất, và Ngài đã biểu lộ...!

Ðức Phật chờ cho A Nan Ða thốt xong, liền tuyên bố''

''A Nan Ða chính là vị đệ tử hầu Phật mà Như Lai định chọn lựa! Và kể từ nay: ngoài việc phục dịch Như Lai ra, ông còn là một trong những người đại diện Như Lai đễ ban bố giáo-lệnh!...'

A Nan Ða khi nghe đức Thế Tôn xác định địa vị của ông như thế, thay vì hãnh diện mình được Phật nâng lên hàng đại đệ tử, A Nan Ða đã khiêm tốn yêu cầu đấng Giảo Thoát chấp thuận cho ông tám điều kiện sau đây:

- Thứ nhất đức Thế Tôn đừng ưu tiên tặng y phục cho A Nan Ða.

- Thứ hai đức Bổn Sư đừng khất thực cho ông ăn.

- Thứ ba đức Bổn Sư đừng dành tịnh xá tốt cho ông ở.

- Thứ tư khi có thí chủ mời, đức Bổn Sư không ưu tiên cử ông tham dự những buổi trai tăng hay cúng dường.

- Thứ năm nếu có ai muốn thỉnh Phật thọ trai thì kẻ ấy chỉ cần nói với A Nan Ða thưa lại và Phật sẽ chấp thuận.

- Thứ sáu khi có người thiện tâm từ phương xa đến, muốn yết kiến đấng Như Lai, thì A Nan Ða có đặc ân đưa họ vào hầu Phật.

- Thứ bảy nếu A Nan Ða gặp phải thắc mắc trong Pháp Bảo thì ông được phép hỏi Phật bất cứ lúc nào.

- Thứ tám nếu đức Thế Tôn thuyết pháp trong lúc A Nan Ða vắng mặt, thì ông xin đúc Bổn Sư lập lại bài Pháp ấy cho ông nghe.

Rồi ông trình bày lý do tám điều trên như sau:

Bốn điều yêu cầu từ thứ nhất đến thứ tư sẽ tránh cho các hạng phàm phu tục tử vị nghị rằng ''A Nan Ða tình nguyện hầu cận Phật chỉ vì lợi lộc!''

Còn bốn điều yêu cầu tiếp theo (từ thứ năm đến thứ tám) sẽ đánh tan sự phê-phán của người đời: " A Nan Ða tối ngày lo hầu hạ Phật và thay thế Phật tiếp xúc với mọi người, còn đâu thì giờ để học đạo, tu hành, phát triển hạnh giải thóat...?!"

Ðức Phật dĩ nhiên đã chấp thuận tám điều yêu cầu đáng khen ấy, bởi nó hoàn toàn phù hợp với nết hạnh của một vị sa môn. Và kể từ đó, A Nan Ða luôn luôn là bạn đồng hành, là người hầu cận và là kẻ tiếp trợ của đức Thế Tôn trong suốt hai mươi lăm năm dài phạm hạnh. Cái khoảng 25 năm dài, mà danh thơm cũng như các đức tính tinh tấn, nhẫn nại và bền bĩ trui rèn nội tâm của A Nan Ða, đã không suy giảm, hao sụt, so với 18 năm đầu, khi ông còn là một sa môn vô danh, chưa ai biết đến.

Và A Nan Ða đã tự trào bằng những câu kệ sau đây:

'Hai mươi lăm năm hầu bên chân Phật,
Học lên cao chân lý sáng như gương!
Một cuôc sống không THAM LAM khao khát,
Diệt vô minh Pháp Phật diệu vô lường!'
(Phỏng dịch theo Theragàtha v.1039 = Tôn túc kệ ngôn số 1039)
Rồi trong 2 đoạn kế của bài kệ nầy, A Nan Ða cũng dùng một mạch văn tương tự, để diễn tả sự an tịnh vô song của một bậc sa môn đã diệt được lòng SÂN HẬN và SI MÊ!

Quý vị đọc giã có thể đọc lại bốn câu thơ trên, chỉ thay thế bốn chữ '' THAM LAM, KHAO KHÁT'' bằng bốn chữ ''GIẬN HỜN, HUNG ÁC'', hoặc thay thế 4 chữ ấy bằng 4 chữ ''SI MÊ, LẦM LẠC'' thì quý vị sẽ có ngay 2 bài kệ tiếp theo như sau:

''Hai mươi lăm năm hầu bên chân Phật,
Học lên cao chân lý sáng như gương!
Một cuôc sống không GIẬN HỜN, hung ác...
Diệt vô minh Pháp Phật diệu vô lường!''


''Hai mươi lăm năm hầu bên chân Phật,
Học lên cao chân lý sáng như gương!
Một cuôc sống không SI MÊ, lầm lạc,
Diệt vô minh Pháp Phật diệu vô lường!''
Ý chính của bài kệ trên đây cũng như những bài kệ tiếp theo trong Tôn túc kinh (Theragàtha) là A Nan Ða đã ca ngợi hạnh phúc của bất cứ ai noi gương Phật mà dứt được tham lam sân hận và si mê!

Mặt khác, ''hai mươi lăm năm'' được nêu trong kệ ngôn vừa nhắc, chỉ diễn tả cái an lạc duy nhất trong thời gian ông hầu hạ Ðức Phật, chứ không phải ám chỉ phẩm cách của một đời ông làm sa môn.

Trong suốt 25 năm ấy, tuy ông vẫn còn phàm tính! – Nói theo kinh điển: ông là người cần học: Sekha (1), nhưng Ananda đã có nhiều lần tâm tư được lìa khỏi tham lam và sân hận, nên ông đã tế nhị thốt lên rằng: '' Dù chưa đắc quả giải thoát, kẻ nào được hầu hạ một vị Phật, kẻ ấy cũng không bị Khổ nảo vì tham lam và sân hận!''

Chú ý: Một bậc Tu ñà Hườn là bậc còn nhiều phàm tính. Bậc này chỉ diệt trừ được ngã chấp, hoài nghi và mê tín mà thôi.

Quả thật Ananda là người đã hưởng được quả lành của công đức hầu Phật!

Còn những kệ ngôn liên quan đến những thiện pháp khác trong Tôn túc kinh (Theragàthà) của A Nan Ða, mặc dù không được trích dẫn ra đây, nhưng nói chung nội dung tất cả để ca ngợi các phẩm cách cao thượng, mà ông với tư cách là bạn đồng hành của đức Phật lúc tại tiền, đã chứng nghiệm!

Riêng đoạn đời Ananda đã đắc quả A La Hán, sau khi Phật Nhập Diệt ra sao, sẽ xin nóí đến trong những phần tiếp theo.

(1): Sekhà: Cần - học, chữ Pali: Sekhà, có nghĩa là người còn học hỏi trong bốn chân lý giải thoát ( Tứ Diệu Ðế)! nhưng nhiều chỗ thuộc Tam Tạng kinh điển Pali thì từ ngữ SEKHÀ ám chỉ ba bậc thánh chưa hoàn toàn giải thoát là Tu Ðà Hườn, Tư Ðà Hàm và A Na Hàm! – Còn bậc thánh cao nhất đã được hoàn toàn giải thoát A La Hán được Phật gọi là bậc ''Hết Học'' Asekhà. Nhiều dịch giả Phật Giáo Việt Nam còn dịch Sekhà là Hữu Học và Asekhà là Vô Học! Soạn giả xin mạn phép chưa vào đây để quý vị tiện nghiên cứu!

2. A NAN ÐA, MỘT CÁI TÊN QUEN THUỘC
Tên Thánh A Nan Ða thường được tuyên tụng trong phẩm mở đầu những kinh điển Phật giáo là một điều mà các hàng Phật tử ai cũng biết! Chẳng hạng như " Ta là A Nan Ðà có nghe như vầy: Một thuở nọ, đức Thế Tôn ngự tại v.v..."

Khi đức Phật còn sinh tiền, Ngài đã chính thức nhìn nhận phẩm vị thay mặt Ngài một cách xứng đáng, của A Nan Ða, bằng cách cho phép ông đi thuyết pháp ở chỗ nầy, hay đến nói đạo ở chỗ kia, với những đề tài mà Phật đã dặn trước.

Do đó, sau khi Ðức Phật Viên Tịch, các tông đồ chưa Nhập Diệt vẫn xem những điều A Nan Ða thuật lại như Kim Ngôn của Ðức Phật.

Tuy cũng có một số các đại Tông đồ khác được đức Phật cho phép làm đại diện thuyết pháp, tiêu biểu nhất là Xá Lợi Phất (Sàriputta) và Mục Kiền Liên (Moggallàna), (Xin xem 2 cuốn "Cuộc đời Xá Lợi Phất" và "Lịch Sử đức Mục Kiền Liên"! – Cùng một dịch giả) (Theo Anguttaranikàya X 115 = Tăng Nhất A Hàm số X 115) nhưng A Nan Ða là người được thừa hưởng Phật Pháp nhiều nhất, và ông đã có khả năng thuật lại hầu hết những bài Pháp dài nhất của đức Phật. Trong khi đó thì các vị đại Tông Ðồ kia, thường chỉ thay thế Phật, diển giảng lại những bài Pháp ngắn hay trung bình!

Và bên cạnh cái phẩm vị tương đương với những đại Tông Ðồ cở Xá Lợi Phất hay Mục Kiền Liên ấy, A Nan Ða còn là một đệ tử ưu tú, có nhiều phúc hạnh giống đức Phật Thích Ca nhất! Chính đức Phật lúc sinh tiền, trong nhiều trường hợp, cũng đã đề cao A Nan Ða như vậy!

Chẳng hạn như Phật từng nói trước các hàng Tăng chúng rằng:"Quốc Vương Pasenadi, sau khi được nghe pháp của A Nan Ða đã trở thành vị vua anh minh, thiện tri thức, như ông được chính Như Lai cảm hóa vậy! ( Theo Majjhimanikayà 88: Trung A Hàm số 88).

Chỗ khác, Phật cũng nói:"Khi tất cả các hàng quí tộc, Bà La Môn, thường dân và đạo sĩ vui sướng vì được yết kiến một vị Chuyển Luân Thánh Vương như thế nào, thì chư sa môn, tỳ khưu, tỳ khưu ni, thiện nam và tín nữ cũng tràn ngập hân hoan, khi nhìn thấy A Nan Ða như thế ấy!".

Hoặc một đoạn khác Phật nói:"Khi các hàng Phật tử nói trên đến thăm, họ chỉ cần nhìn thấy dung mạo của A Nan Ða là đủ rồi. Nếu A Nan Ða rảnh tay thuyết Pháp cho họ nghe thì càng hay, còn giả sử ông bận rộn, không chào hỏi họ một tiếng, họ cũng hoàn toàn hoan hỉ, không bao giờ phiền trách! Ấy chính là cái phúc hạnh của một bậc sắp bước vào ngưỡng cửa Giải Thoát! "(Theo Digha Nikàya 16: Trường A Hàm số 16).

Ngày kia, nhân một cư sĩ hỏi đức Bổn-Sư "làm thế nào để một Phật tử, sau khi cúng dường đứng đắn Phật Bảo và Tăng Bảo, có thể cúng dường xứng đáng Pháp Bảo?!" thì một lần nữa Ðức Phật đã nhắc đến A Nan Ða trong câu trả lời:

"Nầy cư sĩ tại gia! Nếu con muốn cúng dường Pháp Bảo, hãy đến cúng dường A Nan Ða, vì ông là người gìn giữ kho tàng Pháp Bảo!"

Tức thì vị cư sĩ ấy liền mời A Nan Ða về nhà trai tăng và cúng dường đến ông một lá Y rất quí giá.

Lá Y ấy về sau A Nan Ða đem về dâng lại cho Trưởng Lão Xá Lợi Phất (Sàrìputta) vì ông nghĩ rằng: " chính đại huynh Xá Lợi Phất mới là người thông hiểu các Pháp!"

Nhưng một cách tương tự, đến phiên Trưởng Lão Xá Lợi Phất cũng nghĩ rằng:"Chính đức Phật mới là nguyên nhân của kho tàng Pháp Bảo! ". Rồi Xá Lợi Phất lại đem lá Y quí báu ấy dâng đến đức Thế Tôn. (Theo Jàtaka-Sutta 296 = Túc Sinh truyện số 296).

Lại một lần khác, đức Phật đã đề cao A Nan Ða sau khi vị đại đệ tử nầy vừa trả lời xong một câu hỏi của đức Phật, rồi đi nơi khác. Ðức Thế Tôn tuyên bố trước một số tăng chúng:

"Nầy chư tỳ khưu! A Nan Ða chính là người đang tiến lên những trình độ Phật giáo cao hơn! Và ngoài ông ra, khó mà tìm được một sa môn có nhiều trí nhớ như vậy! (Theo Anguttara Nikàya III. 78 = Tăng Nhất A Hàm số III.78)

Trong Tăng Nhất A Hàm quyển III, đoạn 72 còn ghi rằng: có một cư sĩ ngoại đạo nghe A Nan Ða thuyết pháp, rồi quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng. Cư sĩ ấy khi hiểu rõ chân lý đã mừng rỡ khen ngợi: " Thật là Thánh đạo! Thật là chân nhân! Sa môn A Nan Ða đã không đề cao Pháp học của mình, cũng không xuyên tạc giáo lý của kẻ khác! Ông chỉ biết ngay thẳng diễn tả những điều chân thật, mà ý nghĩa nào dù tiềm ẩn cao xa nhất, ông cũng không bỏ qua!"

Vua Pasenadi, sau lần thứ hai cùng với hoàng tử Kosala, nghe A Nan Ða thuyết pháp, đã ca ngợi:

-" Hoàng Thân, nếu được thấm nhuần Pháp Bảo của sa môn A Nan Ða, là đi vào chân lý cao thượng! Vì lời lẽ của A Nan Ða là lời lẽ đáng kính đáng yêu và ôn hòa đối với tất cả mọi người! Lời lẽ như thế không thể phát ra từ cửa miệng của một người đi ngoài thánh đạo! " Theo Majjhima Nikàya 90 = Trung A Hàm số 90)

Thông thường, khi một người được quá nhiều khen ngợi, quá nhiều thiện cảm, và quá nhiều đặc quyền như vậy, thì người sẽ phải gặp lắm chuyện ganh tị, phàn nàn, bất mãn một cách vô cớ của một thiểu số ác tâm. Nhưng A Nan Ða đã không gặp trường hợp ấy. Ông không có kẻ thù, cũng chẳng bị ai ngầm ghét. Ưu điểm độc đáo nầy, thực ra đã do nhân lành từ nhiều kiếp trước. Hay nói cách khác: "Hạnh-phúc không có kẻ thù" của A Nan Ða vốn không chỉ trong kiếp nầy, mà còn đã do ông tạo trong nhiều kiếp trước!

A Nan Ða sở dĩ được đề cao, vì ông biết hạ mình, dâng trọn cuộc đời cho Pháp Bảo. Rồi mọi danh dự cũng không làm cho ông trở thành kiêu căng, ngã mạn! Ông tự nhủ rằng: Tất cả những phẩm hạnh mà ông gặt hái được là nhờ ơn đức của Phật. Bởi thuần hậu như thế, nên tự cao, ngã mạn chẳng thể nào xuất hiện trong ông! Và kẻ không tự cao là kẻ không có kẻ thù, rồi cũng không bị ai ganh ghét!

Nếu một người chỉ biết lo tu kín, tránh xa mọi tiếp xúc với xã hội bên ngoài, và không có kẻ thù, thì ấy là đương nhiên. Chẳng hạn như trường hợp của Anuruddha, anh ruột A Nan Ða! (Sử chép: sa môn Anuruddha, sau khi xuất gia dành cả ngày lẫn đêm cho việc tu hành, không tiếp xúc với bất cứ một ai ngoài đức Phật).

Nhưng A Nan Ða là người hàng ngày phải đối xử với mọi hạng người, phải nghe, thấy và biết đủ mọi vấn đề..., mà ông không bị ai ganh ghét, không bị kẻ khác thù hằn, không bị xung đột trong xã hội, không bị người ta chú ý, theo dõi... thì quả thật là điều tưởng như ông có phép lạ!

Tuy A Nan Ða chăm chỉ và thuần hậu như vậy, nhưng thỉnh thoảng ông cũng bị đức Phật (hay những đại Trưởng Lão) khiển trách! Sự quở trách ấy hoàn toàn khác với sự chỉ trích thông thường, vì khi các bậc chân thật nhắc nhở là khi ông được kích thích vào giác tâm, để cho đức hạnh cao thượng hơn được un đúc, và từ đó, sức mạnh rèn luyện nội tâm mới được vững chắc! Ai biết quý trọng những sự nhắc nhỡ như thế là kẻ dễ trở nên thanh tịnh, và đời sống của họ tự nhiên được mọi người tôn sùng!

Phần nhiều các trường hợp A Nan Ða bị Phật quở trách, đều nhằm vào cách giao tế, lễ nghi xã hội, hoặc kỹ luật cộng đồng, hơn là ông bị quở trách vì tâm tánh không cao thượng, hoặc vì ông chảng hiểu thông Pháp bảo.

Xin kể một vài trường hợp như sau:

Một lần nọ đức Phật bị bệnh rát xót trong bao tử, A Nan Ða được người mách " cháo nếp sẽ giúp cho Phật khỏi bệnh ấy", ông bèn kiếm vật liệu nấu cháo cho Phật.

Ðức Thế Tôn sau đó đã quở trách ông rằng:

"Những hàng đạo sĩ, những hàng sa môn dùng vật liệu nấu ăn trong nơi tu hành là một điều không thích hợp!"

Rồi Ðức Phật chế điều luật: Một tỳ khưu, sẽ phạm tội Ưng xả đối trị, nếu tỳ khưu ấy tự nấu ăn! (Theo Mahàvagga số VI, 17, trong Tạng Luật)

Từ đó về sau, A Nan Ða ghi nhớ điều luật ấy, và nghiêm giữ một cách tinh tấn, lòng tự nhủ rằng: "Ðiều răng của Ðức Phật là nền tảng của phạm hạnh!"

Một hôm A Nan Ða đi khất thực quên mặc Y Tăng Già Lê, được một đồng đạo nhắc khéo "Phật đã phê chuẩn bậc xuất gia phải luôn luôn vận đủ tam Y, khi đi vào làng xóm!". A Nan Ða liền vui vẻ cám ơn vị đạo hữu ấy, và phân trần rằng:"Bần tăng chỉ quên thôi, chứ không cố ý bất tuân phép Phật!". Rồi ông ngoan ngoãn đi mặc Y Tăng Già Lê. Và kể từ đó, mhững phép tắc về cách vận y phục cho trang nghiêm của một tỳ khưu khi ra khỏi tịnh xá, do đức Phật phê chuẩn, đã được ông thi hành từng chi tiết! (Theo Mahàvagga VIII, 23 = Ðại Phẩm Tạng Luật số VIII, 23).

Thuật lại giai thoại nầy để cho các hàng Phật Tử, tại gia cũng như xuất gia, thấy rằng: Một bậc có nhiều trí nhớ như A Nan Ða, bậc và kiếp chót là kiếp sẽ nhập vào thánh lưu như A Nan Ða, mà còn có thể sơ sót vài oai nghi trong đời sống phạm hạnh, huống chi phàm nhân như chúng ta, lại không luôn luôn cảnh giác và biết mình!"

Bởi vậy, đức Thế Tôn đã nhiều lần lưu ý chư tỳ khưu: " Các con chớ coi thường các hành vi nhỏ nhặt, nhất là những oai nghi hằng ngày của đời sống xuất gia! Bởi vì chính những thiện hạnh nhỏ nhặt ấy sẽ là nền tảng cho mọi cố gắng tinh thần, và thánh tâm sau nầy! Luật lệ vốn mang lại những đức hạnh hoàn toàn. Và đức hạnh hoàn toàn sẽ đưa đến tính khiêm nhượng và trí tuệ giải thoát!"

Trưởng Lão Mahàkassapa (Ðại Ca Diếp) cũng từng quở trách A Nan Ða, như trong hai trường hợp sau đây:

Trưởng Lão nói: " A Nan Ða là người đã hướng dẫn vở lòng các đệ tử trẻ tuổi nầy. Tại sao ông không tập cho họ cách thu thúc lục căn, tập cho họ phương pháp chế ngự sự ăn uống, và dạy cho họ nết tinh tấn biết mình?!"

"- Ông đã vô tình làm hỏng tuổi trẻ và làm hư niềm tin của các tân tỳ khưu, đến độ phải bỏ cuộc! Phải chăng A Nan Ðà, vì còn trẻ nên thiếu kinh nghiệm?!" (Khi ấy Trưởng Lão Ðại Ca Diếp đã ngoài 80 tuổi, và A Nan Ða chỉ 50 tuổi, nên Trưởng Lão gọi ông còn trẻ"!). (Theo Samyutta Nikàya 18.11 = Tập A Hàm số 18.11).

Vì còn là Phàm tăng, nên trước sự khiển trách nặng nề nầy, A Nan Ða đã vui vẻ trả lời rằng:

"Tuy trên đầu bần tăng đã hai thứ tóc, bần tăng vẫn hết lòng phục vụ tăng già như một thanh niên, nên Trưởng Lão Ca Diếp cho bần Tăng là còn trẻ, thiếu kinh nghiệm?!".

Ở đây, chúng ta có thể hiểu rằng: A Nan Ða đã quá tin tưởng vào sự chân thành phục vụ giáo hội của ông, và đã coi thường tính ham mê đời sống nhục dục của 30 tân đệ tử! Ông đã không biện minh được trách nhiệm không làm tròn của mình trước sự phê phán của một vị Trưởng Lão! Chúng ta chớ quên rằng khi ấy A Nan Ða chưa đắc quả A La Hán, nên trong ông vẫn còn ít nhiều phiền não thô thiển ấy bất chợt bộc phát, chứ không phải do bản tánh cứng đầu cố ý phạm thượng!

Trường hợp quở rách thứ hai của Ðại Trưởng Lão (Mahà Kassapa) đến A Nan Ða thuộc về một bối cảnh khác:

Số là lần nọ A Nan Ða yêu cầu Trưởng Lão cùng đi với ông đến dạy đạo tại một nữ tu viện. Sau một phút chần chờ, Trưởng Lão Ca Diếp đã nhận lời. Nhưng khi thuyết pháp xong, một tỳ khưu ni ương nghạnh trong lòng còn chứa dục tình đã bình phẩm: "Trưởng Lão Ca Diếp cứ dành nói pháp một mình, không để cho tôn giả A Nan Ða, là kẻ đẹp trai, hiểu biết rộng, thốt ra được một lời!". – Tỳ khưu ni ấy còn ví dụ Trưởng Lão như người bán kim, cứ ca tụng cây kim trước người biết chế tạo ra nó! (ám chỉ A Nan Ða).

Trên đường về, A Nan Ða hiểu ý, bèn yêu cầu Trưởng Lão Ðại Ca Diếp tha lỗi cho tỳ khưu ni kia. Nhưng Trưởng Lão đã quở trách rằng:

"Nầy A Nan Ða! Sao ông không nhớ thu thú lục căn! Ông cứ để những điều khen chê ảnh hưởng đến hạnh kiểm của mình?! (Theo Samyutta Nikàya 16.10 = Tạp A-Hàm số 16.10).

Ðiều nầy có nghĩa là Trưởng Lão Ðại Ca Diếp đã khéo léo quở trách A Nan Ða quá sốt sắng mang lợi ích tinh thần cho Ni giới, mà coi thường sự nguy hiểm luyến ái riêng tư, không phải từ thân A Nan Ða, mà từ phía một người khác: (ám chỉ của một tỳ khưu ni!). Sự quở trách nầy về sau đã giúp ích cho A Nan Ða rất nhiều!

Dẫu sao, hai trường hợp A Nan Ða được Trưởng Lão Ðại Ca Diếp nhắc nhở nói trên, vẫn không làm cho những nhà nghiên cứu đời sống của các đại tông đồ đức Phật hiểu lầm. Trái lại, xuyên qua những lần quở trách ấy, Trưởng Lão Ðại Ca Diếp đã chứng minh được lòng từ bi của mình, cũng như A Nan Ða đã biểu lộ đức tính luôn luôn biết phục thiện của ông. Vì cả hai vị cao đồ nầy trước sau vốn giao hảo với nhau rất thân mật. Có thể nói họ là hai vị danh tăng tuy khá chênh lệch tuổi tác, nhưng tương đắc nhất trong hàng thinh văn đệ tử Phật.

Một lần khác, A Nan Ða bị chỉ trích vì câu chuyện sau đây:

A Nan Ða hỏi Phật " - Tiếng nói của đức Thế Tôn vang vào vũ trụ sâu xa như thế nào?!"

Ðức Phật trả lời rằng: "Tiếng nói của một bậc Toàn Giác thì không đo lường được, có thể nghe thấu vào mọi cõi Ðại Thiên thế giới, có thể chạm tận tai tất cả Phạm Thiên (1) và bao trùm Tam Giới! Tiếng nói ấy còn thấm nhuần cả đến muôn loài vạn vật, từ kiếp sống ngắn nhất cho đến kiếp sống dài nhất, cở tuổi thọ của mặt trời!"

(1) Brahma = Brahma Deva - Trời Phạm Thiên, một cõi mà sự tịnh lạc tương đương với đệ Tứ Thiền trong trình độ tâm linh của Phật giáo

A Nan Ða nghe Phật trả lời như vậy, bèn hoan hỉ, tưởng như lời Phật lúc nào cũng văng vẳng mọi nơi, không đâu không có âm thanh Giác Ngộ, nên ông ca tụng:

"- Thật là may mắn cho tôi! Thật là hữu hạnh cho tôi, được làm đệ tử hầu cận cho một bậc Toàn Năng, Toàn Giác!".

Tỳ Khưu Udàyi nghe A Nan Ða tự mãn bằng những lời tán than như thế, liền phê bình:

" Nầy A Nan Ða! Ca ngợi sự toàn năng của đức Bổn Sư thì có ích lợi gì cho mình! - Nếu mình không tu hành Thánh Thiện và Toàn Giác?".

Rồi chính từ sự chỉ trích đó, tỳ khưu Udàyi đã bàn rộng vấn đề ra. Chẳng hạn như ông phê bình A Nan Ða chỉ nhìn vào thân Phật rồi thỏa mãn với tha lực, không chịu trao dồi thân khẩu ý, để tự mình được trong sạch giải thoát, được trở thành toàn năng! Đức Phật nghe câu chuyện ấy, bèn giải oan cho A Nan Ða như sau:

"- Nầy Udàyi! Không phải như thế đâu! Giả sử như A Nan Ða hết tuổi thọ ngay bây giờ, và dù chưa đắc Thánh quả cao hơn Tu Ðà Hườn, A Nan Ða vẫn sinh làm vua trời đến bảy lần, nhờ kết quả tu sửa tâm tính từ những kiếp trước của ông, hoặc ông sẽ sinh làm vua xứ nầy đến bảy lần, chứ không còn bị đọa xuống bốn đường ác đạo nữa! Nầy Udàyi! Và đây là kiếp chót của A Nan Ða, để ông được giải thoát! (Theo Anguttara Nikàya III, 80 = Tăng Nhất A hàm số III, 80).

Đức Phật đã tiên đoán về lịch trình tiến hoá của A Nan Ða như thế, trước mặt vị đại đệ tử hầu cận nầy, đủ chứng minh rằng: Niềm tin của đức Bổn sư dành cho A Nan Ða quả thật chắc chắn. Ngài cũng biết rõ rằng các lời lẽ ấy sẽ không làm cho A Nan Ða ỷ lại hay chễnh mãng trong việc tu trì.

Vã, Phật thốt ra mấy lời đó vốn có lý do: Thứ nhất A Nan Ða là người thường mặc cảm kém phúc đức, và còn lâu lắm ông mới được giải thoát! Thứ hai, sự chỉ trích càng làm mặc cảm của ông gia tăng! Thứ ba, bằng một cách gián tiếp, đức Phật cần bênh cực A Nan Ða, để sau mỗi lần bị chỉ trích, tâm tư ông khỏi bị lo âu, đồng thời nhân dịp nầy Phật khuyến khích A Nan Ða nên cố gắng hơn nữa, vì Thánh Quả Giải Thoát sẽ đến với ông nội trong kiếp ấy!

Ðức Thế Tôn dành các lời tiên đoán như thế cho những ai luôn luôn cố gắng mà vẫn sợ mình, còn bị tiếp tục luân hồi, hơn là cho những kẻ dễ duôi và ỷ lại!

Nhưng trong câu chuyện sau đây, đức Phật đã nhắm vào tâm thức của A Nan Ða, để khiển trách và chế định một điều luật:

Số là lần nọ, đức Bổn Sư ra lệnh cho A Nan Ða trông nom phân phối vải, và may y phục cho các hàng tăng chúng. A Nan Ða đã thực hiện công việc nầy một cách tốt đẹp, nên được đức Phật khen ngượi trước tăng chúng rằng: "A Nan Ða là người khéo léo, ngay cả trong lãnh vực khâu vá! Một sa môn đủ đức hạnh là người biết tự khâu vá mảnh y của mình, không để chỉ viềng bung ra, và không bao giờ bị chỉ trích là phí phạm vật dâng cúng của các hàng thiện nam tín nữ!". (Theo Mahàvagga VIII 12 = Ðại Phẩm VIII 12).

Sau đó một thời gian, khi Ðức Phật và chư đệ tử ngụ gần thủ đô Ca Tỳ La Vệ. Một hôm đức Bổn Sư thấy trong tịnh xá có rất nhiều tọa cụ, bền hỏi A Nan Ða, phải chăng nơi ấy đang có đông tỳ khưu hội họp.

A Nan Ða liền xác nhận, và ông còn trình rõ với đức Thế Tôn rằng:

- Bạch đức Bổn Sư! Vừa rồi tăng đã cùng nhau vá y! đức Bổn

Sư đã chẳng khen ngợi: " Một sa môn xứng đáng là người biết bảo trì lấy lá Y của mình, tránh phí phạm vãi của đàn na tín thí?" - Nên đệ tử đã tổ chức một buổi vá Y hội để có thể chỉ cho các đồng đạo phương pháp khâu vá!"

Rồi A Nan Ða thuật lại sự sinh họat cùng nhau khâu y vui vẻ như thế nào cho đức Phật nghe. Ông đâu biết rằng: Mỗi lần họp nhau khâu Y như người thế tục đó, sự tinh tấn tu trì của các hàng tỳ khưu đã giảm xuống rất nhiều, vì cái tính ngồi chung làm việc thì sinh ra nói chuyện nhảm nhí!

Do đó đức Phật đã chế ra điều răn, chấm dứt tật xấu cho các hàng tăng lữ, hội họp làm việc chung giống như người thế tục, như sau:

"- Một tỳ khưu, đáng bị chỉ trích, là người ưa thích các cuộc hội họp như ngoài đời, hoặc sung sướng khi được tụm năm, tụm bảy, để vừa làm việc, vừa nói chuyện! Hạng tỳ khưu như thế sẽ không thế nào tìm thấy sự bình an trong hạnh xuất gia, không thể nào nhận ra đức thanh tịnh trong sự sống đơn độc, không thể nào trở nên an nhàn trong nơi yên lặng, và không thể nào thực hiện thiện hạnh tỉnh thức biết mình!"

"- Kẻ nào ham thích trong các cuộc tụ họp phù phiếm, người ấy sẽ không tìm ra sự an lạc chân chánh, vì trạng thái an lạc chân chánh chỉ phát sanh, khi tách rời khỏi mọi tính ham thích tụ tập! - Ngay cả những người đã an trú trong thiền định, mà khi bị "tính thỏa thích trong tụ họp" lôi kéo, kẻ ấy về sau cũng sẽ bị chi phối, không thể hoàn toàn điều khiển tâm an trụ được!"

- Còn giả sử thiền pháp đắc được của họ, có tồn tại trong một thời gian, thì ấy chỉ là sự vận dụng để biểu dương chứ không phải là chính quả an trụ trong thiền định! Cho nên những người hành thiền chung một chỗ (ý nói chung một tịnh cốc hay một tịnh xá) thường sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc đạt đến thánh quả giải thoát, vì tu thiền chung loại ấy là tu thiền còn tùy thuộc vaò những điều kiện thế gian, nhất là điều kiện phải có người tu thiền chung với mình!

Bởi thế, đức Phật, sau khi giảng giải về sự tai hại của tính thích tụ họp, Ngài bèn kết luận:

"- Không có một hình thức ham thích hội họp nào mà không gây ra khổ não (dukkha)! (-Dukkha ám chỉ tất cả các trạng thái bất toại nguyện từ thô kệch đến vi tế!). Bởi vì xuyên qua luật vô thường ( anicca): Hễ có hợp thì phải có tan. Nếu "Hợp" làm cho sung sướng, thì "Tan" (chia tay) sẽ làm cho phiền não!. Ðối với sự chia tay trong một thời gian ngắn, vì phiền não rất vi tế, khó nhận thấy, nên người ta coi thường. Nhưng đối với những sự chia tay lâu dài, hay chia tay vĩnh viễn, phiền não chính là sự thống khổ, có thể làm cho những phần tử chia tay rủi hết tuổi thọ rơi vào trong bốn đường ác đạo! Thậm chí tới cõi trời cao nất là cõi Phạm Thiên mà sự chia tay cũng làm cho các hàng Thiên chúng ở cõi nầy buồn bã, mất hết hào quang!).

-Vô thường là một trong ba nguyên tắc bất di bất dịch của Pháp Lý nhà Phật vậy!

Sau đó, đức Bổn Sư còn chỉ rõ một phương pháp thực tiễn, mà Ngài chỉ dành để hướng dẫn A Nan Ða! Phật dạy ông rằng:

"- Vì bổn phận phải hầu Phật và phải tiếp xúc với đủ mọi hạng người (ý nói có hợp có tan!), nên ông cần luôn luôn thực hành chi thứ 7 của Bát Chánh Ðạo là Chánh Niệm. Lấy nó làm căn bản để phát triển 7 chi còn lại là Chánh Kiến, Chánh Tư Duy, Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng, Chánh Tinh Tấn và Chánh Ðịnh!"