Nếu như đều phải chết thì sao người ta còn phải sống để làm gì?

Trưa hè, trời vừa dứt cơn mưa. Những tia nắng trong veo chiếu qua kẽ lá còn đẫm nước. Nhất Thiền ngồi bên hiên nhà tĩnh mịch cùng sư phụ đọc sách…


Hôm nay hai thầy trò cùng đọc kinh sách. Chú tiểu Nhất Thiền ôm một cuốn sách to tướng, che lấp hết cả mặt và ê a ngồi đọc bên cạnh sư phụ. Được một lúc, chừng như mệt mỏi, chú cứ gật gà gật gù, tay dần dần buông thõng, mấy lần suýt đánh rơi cả sách. Sư phụ phải đập vào lưng, vào đùi chú mấy lần, Nhất Thiền mấy choàng tỉnh khỏi cơn buồn ngủ. Nhưng trông bộ chú ta hãy còn ngao ngán lắm.

Chú ngáp dài một tiếng rồi nói: “Sư phụ ơi, chúng ta nghỉ một lát đi. Con mệt quá!”.

Sư phụ đặt quyển kinh lên bàn, nói: “Là người tu hành thì phải chịu khổ, tinh tấn thường hằng, tiểu tử ngốc à!”.

Nhất Thiền chu chu cái mỏ, làm bộ đáng yêu: “Nhưng mà con buồn ngủ lắm sư phụ ơi! Tại sao lúc nào đọc sách cũng buồn ngủ hết vậy?”.

Sư phụ vuốt râu, cười khà đáp: “Là do trong đầu con vốn không có nhập tâm đọc sách, lẫn nhiều tạp niệm, học cũng bằng không thôi! Vậy chúng ta hãy nghỉ một lát!”.

Đoạn sư phụ đứng dậy khỏi tấm bồ đoàn, đi vào nhà trong mang một khay trà ra. Trong khay có đủ cả chén tống, cây gạt trà, lọ trà, ấm tử sa và 2 chiếc chén con. Sư phụ ngồi xuống trước mặt Nhất Thiền, đổ trà vào ấm, chiêu thêm nước sôi. Đợi một lúc, cả ấm trà đã nóng ran lên và hương trà đã bắt đầu thoảng bay trong gió, sư phụ nhẹ nhàng rót một chén cho mình. Nhất Thiền nhìn theo nhịp tay uyển chuyển của sư phụ, không kìm được: “Sư phụ rót cho con một chén đi!”.

Sư phụ mỉm cười: “Trẻ con không uống thứ này được. Con hãy ngoan ngoãn mà ngồi đó đi”.

Nhất Thiền tiu nghỉu: “Nhưng con nghe các sư huynh nói uống trà có thể hết buồn ngủ”.

Sư phụ gật gù: “Ừ, cũng phải. Trà là tiên thảo. Người tu hành chúng ta cũng rất quý cái vị thanh tao của nó. Đây ta rót cho con một chén. Hôm nay sư phụ sẽ dạy con cách uống trà”.

Nhất Thiền khoái chí, tròn mắt nhìn sư phụ cầm chiếc ấm tử sa chiêu nước sang chén cho mình. Nhưng sư phụ cứ rót mãi, rót mãi, rót đến lúc chén trà đầy tràn cả ra ngoài rồi mà vẫn chưa ngừng tay. Nhất Thiền thấy vậy, không nhịn được bèn nói: “Sư phụ, chén trà tràn cả ra rồi”.

Sư phụ khi ấy mới ngừng tay, ngẩng mặt nhìn Nhất Thiền, ôn tồn giảng: “Tất nhiên là ta biết. Nhưng con nghĩ mà xem, đầu óc của con cũng như một chén trà cũ, muốn rót đầy trí huệ và chính niệm thì phải cho nước trà cũ trào hết ra ngoài”.

Nhất Thiền gật gù gật gù, cầm chén trà lên nhấm nháp ra chiều khoái chí lắm.

Sư phụ lại hỏi: “Nhất Thiền, không thấy đắng sao?”.

Nhất Thiền lắc đầu, tròn mắt: “Không đắng, không đắng! Chẳng phải sư phụ vừa giảng là người tu hành thì phải chịu được khổ còn gì!”.

Vừa thưởng tuần trà, hai thầy trò vừa đưa mắt nhìn cảnh vật ngày càng thêm mĩ diệu dưới những tia nắng trong veo. Ngoài vườn thi thoảng có chú chim sẻ chuyền cành ríu rít. Đàn bướm từ đâu lại chấp chới bay ra. Nhất Thiền thích chí, ra vườn hoa nhảy nhót tung tăng. Bỗng chú kêu lên thất thanh: “Sư phụ! Sư phụ! Bươm bướm chết mất rồi!”.

Rồi chú lật đật chạy đến bên sư phụ, xòe bàn tay đang ấp một cánh bướm mỏng manh thoi thóp ra. Con bướm chừng như đã đi hết cuộc đời ngắn ngủi của mình. Sư phụ xoa đầu Nhất Thiền nói: “Tiểu tử à, đây chính là luân hồi sinh tử. Người ta sống thật lâu trong đời rồi cũng sẽ chết đi thôi”.

Nhất Thiền bối rối: “Ôi, chúng ta rồi cũng chết phải không sư phụ?”.

Sư phụ khẽ gật đầu, đưa chén trà lên miệng nhấp một ngụm: “Đúng vậy, ai rồi cũng sẽ phải lìa xa cõi hồng trần này cả thôi. Sau khi sang bên kia thế giới, họ sẽ có cơ hội trở lại cõi trần một lần nữa. Nhưng đời này là người, đời sau không chừng có thể là bươm bướm”.

Nhất Thiền gãi đầu: “Nếu như đều phải chết thì sao người ta còn phải sống để làm gì ạ?”.

Sư phụ đứng dậy, nhìn ra hậu viện, đoạn trầm ngâm: “Sống ấy à, có lẽ là để cho khi suối trong chảy qua không bỏ lỡ ngọt lành, khi hoa nở rộ vẫn có người bầu bạn, khi gió táp mưa sa vẫn có người chở che. Lúc con sống cũng là để trả nợ nghiệp khi chết đó thôi. Nếu không có cái chết thì sự sống nào có nghĩa gì.

Mà nếu không có sự sống thì cái chết cũng chẳng làm người ta phải sợ hãi, tiếc nuối nhiều đến thế. Người sống trên đời, buồn đau quá nửa, chỉ có tinh tấn tu luyện, trả hết tội nghiệp, mai này mới có thể mong thoát khỏi lưới luân hồi, ra khỏi vòng nghiệp quả, đắc được vĩnh viễn hạnh phúc vô biên cõi cực lạc mà thôi”.

Đúng vậy, sống chết phải đâu là chuyện lớn? Luân hồi sinh tử nghìn vạn năm qua vẫn thế, người ta mấy ai tỉnh mộng từ kiếp sống luân hồi. Chuyện cũ sẽ quên, cuộc đời rồi lại như trang giấy mới. Ấy chính là:

Người cũ trăm năm chẳng thấy đâu
Nước trôi đã quá mấy nhịp cầu
Tin nhạn không về mong thăm thẳm
Lá thắm duyên chưa bén gót sầu

Kìa cái oanh vàng kêu liễu biếc
Thương ôi ngày tháng tựa bóng câu
Nhân sinh sâu mộng nào mong tỉnh
Chút chuyện trần ai luống bạc đầu
 

Bài viết: "Nếu như đều phải chết thì sao người ta còn phải sống để làm gì?
Văn Nhược/ Vườn hoa Phật giáo