vai tro cua phat giao thoi ly va su phat trien van minh dai viet

Vai trò của Phật giáo thời Lý và sự phát triển văn minh Đại Việt

”Phật giáo thời Lý đã đóng góp vào việc xây dựng nền văn minh Đại Việt thịnh trị trong hơn hai thế kỷ. Bởi vì về cả phương diện tinh thần và phương diện vật chất, ảnh hưởng của Phật giáo giai đoạn này là quá rõ trên tất cả các hoạt động trong nước...”.
  • Cuộc đời đức Phật lịch sử theo kinh điển Pali

    Này các đệ tử, có một con đường đưa đến Niết Bàn; Như Lai có mặt với tư cách là đạo sư chỉ đường. Những gì cần dạy, Ta đã chỉ dạy. Những gì cần làm, Ta đều đã làm. Trong hội chúng ta, có người chứng đắc quả A-la-hán, có người đang cố nỗ lực thực tập. Người chứng, người không. Ta làm gì được? Như Lai là bậc chỉ con đường đúng. (Kinh Trung Bộ III, trang l05).
  • Lịch Sử Phật Giáo Ấn Độ

    Lịch Sử Phật Giáo Ấn Độ
  • Suy nghĩ về tiếp biến văn hóa Phật giáo thời Lý-Trần

    Tiếp biến văn hóa là một vấn đề thú vị trong các nền văn hóa thể hiện sự tương tác với một hoặc nhiều nền văn hóa khác dẫn đến biến đổi mô thức văn hóa của chính mình (văn hóa đích) cũng như là nền văn hóa nguồn1 trong quá trình tương tác, tiếp xúc lâu dài.
  • 24. -Tổ Sư-Tử (Aryasimha)

    Cuối thế kỷ thứ chín sau Phật Niết-bàn Ngài dòng Bà-la-môn người Trung-Ấn. Thuở nhỏ Ngài rất thông minh, tài hùng biện xuất chúng.
  • 25. -Tổ Bà-Xá-Tư-Đa (Basiasita)

    Đầu thế kỷ thứ mười sau Phật Niết-bàn Ngài dòng Bà-la-môn người nước Kế-Tân, cha hiệu Tịch-Hạnh , mẹ là Thường-An-Lạc. Một hôm, bà Thường-An-Lạc nằm mộng thấy lượm được cây kiếm thần, sau đó có thai Ngài.
  • 26. -Tổ Bất-Như-Mật-Đa (Punyamitra)

    Giữa thế kỷ thứ mười sau Phật Niết-bàn. Ngài dòng Sát-Đế-Lợi ở Nam-Ấn, con vua Đức-Thắng
  • 27. -Tổ Bát-Nhã-Đa-La (Prajnatara)

    Cuối thế kỷ thứ mười sau Phật Niết-bàn. Ngài dòng Bà-la-môn ở Đông-Ấn.
  • 28. -Bồ-Đề-Đạt-Ma (Bodhidharma)

    Đầu thế kỷ thứ mười một sau Phật Niết-bàn Ngài dòng Sát-Đế-Lợi ở Nam-Ấn, cha là Hương-Chí vua nước nầy. Vua Hương-Chí sanh được ba người con trai, Ngài Là Vương-tử thứ ba.
  • 29.Huệ Khả (494 601 T.L )

    Sư họ Cơ quê ở Võ-Lao, giòng tôn thất nhà Chu, cha mẹ Sư lớn tuổi không con, lắm phen đến chùa cầu con, sau mẹ có thai sinh ra Sư. Khi Sư lọt lòng mẹ, có hào quang lạ chiếu sáng trong nhà, nên đặt tên Sư là Quang.
  • 30. Tăng Xán (497 602 T.L.)

    Không ai biết quê quán và gốc gác Sư thế nào.Chỉ biết Sư với hình thức cư sĩ mắc bệnh ghẻ lở đến lễ Tổ Huệ-Khả xin xám tội. Nhơn đó được ngộ đạo.
  • 31. Đạo Tín ( 580 651 T.L. )

    Sư họ Tư-Mã, tổ tiên quê ở Hà-Nội, thân phụ Sư dời về Kỳ-Châu huyện Quảng-Tế, mới sanh Sư. Sư xuất gia khi còn để chóp. Tuy tuổi ấu thơ, mà Sư có ý chí siêu việt, ngưỡng mộ Không tông và các môn giải thoát.
  • 32.Hoằng Nhẫn (602 675 T.L.)

    Sư họ Châu quê ở Châu-Kỳ thuộc huyện Huỳnh-Mai.
  • 33. Huệ Năng (638 713 T.L.)

    Sư họ Lư, Tổ tiên quê ở Phạm-Dương, cha tên Hành-Thao, mẹ là Lý-Thị. Đời Võ-Đức (618-627 T.L.) nhà Đường cha Sư làm quan ở Nam-Hải