suy nghi ve tiep bien van hoa phat giao thoi ly tran

Suy nghĩ về tiếp biến văn hóa Phật giáo thời Lý-Trần

Tiếp biến văn hóa là một vấn đề thú vị trong các nền văn hóa thể hiện sự tương tác với một hoặc nhiều nền văn hóa khác dẫn đến biến đổi mô thức văn hóa của chính mình (văn hóa đích) cũng như là nền văn hóa nguồn1 trong quá trình tương tác, tiếp xúc lâu dài.
  • Phật giáo sau thời Hai Bà Trưng

    Chính quyền Hùng Vương cho đến những năm đầu của thế kỷ thứ I (sau Dương lịch) là một chính quyền hoàn chỉnh với bộ máy công quyền thực hiện chức năng quản lý và bảo vệ đất nước.
  • Suy ngẫm đôi điều về sự tiếp cận giáo lý đạo Phật trong giới trẻ đương đại hiện nay

    Trước xu thế toàn cầu hoá về kinh tế, văn hoá xã hội. Phât giáo ở nước ta được giới trẻ tiếp cận và đánh giá như thế nào? Sự ảnh hưởng của giáo lý đạo Phật đối với thế hệ trẻ hiện nay ra sao? Người viết bài này với kiến thức còn nông cạn không dám đề cập đến những vấn đề to tát.
  • Phong tục độc đáo ngày lễ Vu Lan ở các nước châu Á

    Theo tín ngưỡng của người Trung Quốc, tháng 7 âm lịch là thời gian mở cổng địa ngục và các linh hồn trở về dương gian. Rằm tháng 7 âm lịch còn được gọi là lễ Vu Lan hay Tết Trung Nguyên. Vào ngày này, người Trung Quốc sắm sửa mâm cỗ thịnh soạn để dâng lên tổ tiên, ba lần mỗi ngày, buổi lễ chính vào lúc hoàng hôn.
  • 7.- Tổ Bà-Tu-Mật (Vasumitra)

    Cuối thế kỷ thứ ba sau Phật Niết-bàn. Ngài họ Phả-La-Đọa sanh trưởng tại miền Bắc-Ấn.
  • 8.- Tổ Phật-Đà-Nan-Đề (Buddhanandi)

    Đầu thế kỷ thứ tư sau Phật Niết-bàn Ngài họ Cù-Đàm, người nước Ca-Ma-La. Thuở nhỏ trên đảnh Ngài có cục thịt nổi cao, thường phát ra hào quang,năm sắc xen lẫn.
  • 9. - Tổ Phục-Đà-Mật-Đa (Buddhamitra)

    Cuối thế kỷ thứ tư sau Phật Niết-bàn Ngài họ Tỳ-Xá-La ở nước Đề-Già.
  • 10. - Tổ Hiếp-Tôn-Giả (Parsvika)

    Đầu thế kỷ thứ năm sau Phật Niết-bàn Ngài tục danh là Nan-Sanh, người Trung-Ân. Thân mẫu mang thai đến 60 năm mới sanh ra Ngài.
  • 11.- Tổ Phú-Na-Dạ-Xa ( Punyayasas )

    Giữa thế kỷ thứ năm sau Phật Niết-bàn. Ngài dòng Cù-Đàm ở nước Hoa-Thị, thân phụ là Bảo-Thân. Thân phụ sanh được bảy người con trai, Ngài là con út.
  • 12. - Bồ-Tát Mã-Minh ( Asvaghosha )

    Cuối thế kỷ thứ năm sau Phật Niết-bàn. Bồ-Tát người nước Ba-La-Nại, hiệu Mã-Minh cũng có hiệu Công-Thắng.
  • 13. - Tổ Ca-Tỳ-Ma-La (Kapimala)

    Đầu thế kỷ thứ sáu sau Phật Niết-bàn.Ngài người nước Hoa-Thị, ban đầu học theo ngoại đạo, giỏi các pháp huyễn thuật, đồ chúng có đến ba ngàn. Khi đến so tài với Mã-Minh, bị Tổ hàng phục,liền cùng đồ chúng phát tâm xuất gia. Tổ Mã-Minh độ cho Ngài xuất gia, sau truyền tâm pháp.
  • 14. - Bồ-Tát Long-Thọ (Nagarjuna)

    Giữa thế kỷ thứ sáu sau Phật Niết-bàn. Ngài cũng có tên là Long-Thắng,dòng Phạm-Chí ở miền Tây-Ân. Thuở nhỏ, Ngài bẩm tánh thông minh;vừa nghe Phạm-Chí tụng bốn kinh Phệ-Đà là Ngài thuộc lòng văn nghĩa.
  • 15. - Bồ-Tát Ca-Na-Đề-Bà (Kanadeva)

    Cuối thế kỷ thứ sáu sau Phật Niết-bàn. Ngài dòng Tỳ-Xá-Ly ở Nam-Ấn. Thuở nhỏ Ngài bẩm tánh thông minh,biện tài vô ngại, Ban sơ Ngài học phong tục trong nước, ưa làm việc phước thiện.
  • 16. -Tổ La-Hầu-La-Đa (Rahulata)

    Đầu thế kỷ thứ bảy sau Phật Niết-bàn. Ngài dòng Phạm-Ma ở nước Ca-Tỳ-La, Thuở nhỏ đã có sẵn lòng mộ đạo. Khi lớn do cơ duyên trong vườn có cây mọc nấm, Tổ Đề-Bà giải thích nhơn do,mà Ngài được xuất gia.