Nhân Ngày Thành Đạo nghĩ về Phật giáo hiện nay

Thật trùng hợp hy hữu, ngày Đản sinh, ngày Xuất gia và Thành đạo của đức Bổn sư Thích Ca Mâu Ni đếu là ngày mồng Tám. Theo tín ngưỡng, thì xác suất này khiến chúng ta cần suy ngẫm.

nhan ngay thanh dao nghi ve phat giao hien nay

Nói về đức Phật và viết về đức Từ Phụ, chúng ta thấy hàng ngàn năm qua, các Tổ thầy và không ít học giả nghiên cứu đạo Phật đã đề cập khá nhiều và đầy đủ về Ngài. Gần đây cũng xuất hiện nhiều tác phẩm, bài viết nói về chủ đề lich sử, tôn giáo nhằm xác lập không gian và thời gian về sự xuất thế của Ngài để khẳng định: Đâu là đức Phật lich sử, đâu là đức Phật tôn giáo. Việc làm này chúng ta cũng không lấy làm ngạc nhiên, bởi nếu có khu biệt làm rõ được phần nào về cuộc đời hành đạo độ sinh của đức Thế Tôn, thì cũng để chúng ta thêm kính ngưỡng, tin yêu và hiểu Phật giáo trong nhiều bối cảnh lịch sử khác nhau.

Nhân ngày Thành đạo, người viết với kiến thức còn nông cạn trộm nghĩ, theo các Tổ thầy dạy, đừng lấy thế trí biện thông mà đo lường Phật pháp (lòng phàm đo việc thánh). Bởi nếu chúng ta dùng suy lường trí giải cực đoan thì đều dẫn đến ngày càng xa Pháp, xa sự thật. Đạo Phật hiện nay không còn chỉ là ở châu Á, mà đã ảnh hưởng toàn cầu, đặc biệt là ở các nước Tây phương. Sự phát triển rộng rãi của Phật giáo trên toàn thế giới khiến Phật tử chúng ta rất vui mừng, nhưng cũng không khỏi lo âu, bởi sự trộn lẫn giữa tín ngưỡng dân gian thần quyền với chánh pháp của đạo Phật (nếu không muốn nói là mê tín dị đoan) đã làm không ít người hiểu lầm Phật giáo.

Song cũng may thay, đọc nhiều bài viết của các Tổ thầy nói về đức Phật, cũng như kinh điển đề cập về pháp yếu của Ngài chúng ta lại thấy yên lòng. Bởi nhiều bài viết công phu, tìm tòi rất tâm huyết đã giúp cho những người sơ cơ học Phật hiện nay hiểu được đâu là chánh pháp và đâu là pháp tà, khi mà khoa học công nghệ đang phát triển, nền văn minh nhân loại ngày càng tiến sâu vào lĩnh vực tâm linh đã dần dần thu hẹp khoảng cách "dị đoan" xóa tan dần bóng ma thần quyền đeo bám.

Lúc đó, mọi điều sẽ được làm sáng tỏ, bởi do trí tuệ của con người ngày càng phát triển để khẳng đinh mình trước thực tại, và khi đó giáo lý thâm hậu của đạo Phật cũng sẽ được phổ quát ứng dụng vào đời sống giúp cho con người giác ngộ cũng như muôn loài thoát khỏi khổ đau như lời nguyện cứu độ của các Chư Phật và Bồ tát.

Nhân ngày Thành đạo, chúng ta hồi hướng về Đức Từ Phụ bằng lòng tin đức tin và trí tuệ. Vâng theo lời Phật dạy, Duy tuệ thị nghiệp, chỉ có trí tuệ mới hiểu được Phật pháp vi diệu. Đạo Phật là đạo của tuệ tri. Tu là sửa cái xấu ngay tại Ngôi nhà của tâm mình. Người tu hành làm việc gì cũng cần phải nghĩ đến nhân quả. Đến với đạo Phật bằng tín ngưỡng chưa đủ, mà phải có trí tuệ nữa mới dứt khổ! Vì tín ngưỡng chưa đủ khả năng xóa tan mê lầm và vô minh nhiều đời nhiều kiếp. Đạo Phật coi trọng năng lượng của Tự lực, hơn tha lực, bởi chỉ có tự lực của tâm thành và trí tuệ đích cực, mới tiếp cận được tha lực của Phật giới (Điện từ Quang).

Trong quá trình hội nhập toàn cầu về kinh tế, xã hội, văn hóa và khoa học. như hiện nay. Phật giáo cũng có những mặt chuyển động để thích ứng với xu thế chung của toàn cầu về văn hóa cũng như tâm linh. Với tinh thần Phật pháp bất ly thế gian giác" và "Tùy duyên bất biến". Nhân ngày thành đạo chúng ta cùng nhau điểm lại đôi nét về sự phát triển cũng như những gì còn hạn chế thủ cựu chưa thích ứng của Phật giáo trong xu thế hội nhập qua một số bài viết về Phật pháp của các học giả Tây phương cũng như của các Thiền sư nhận định, đánh giá về đạo Phât trong xu thế hội nhập phát triển hiện nay, và qua đó để biết mình đang ở đâu mà tinh tấn sửa đổi khắc phục trên lộ trình giác ngộ Phật pháp, nhằm giảm thiểu khổ đau cho chính mình và muôn loài với tâm hạnh từ bi mà đức Phật đã chỉ dạy.

Trong bài viết "Yếu chỉ Phật pháp" của Thiền sư Duy Lực đề cập tới một số vấn đề về Phật pháp. Ở đây, chúng tôi chỉ xin đưa ra một khía cạnh về tôn giáo mà Thiền sư Duy Lực trích dẫn trong "Trang Phật học" qua cuốn "Tôn giáo của nhận loại" của tác giả: Hoiston Smith - Giáo sư người Mỹ, ông đưa ra 6 yếu tố quy tụ căn bản của tôn giáo nhân loại nói chung. Đề cập về 6 yếu tố này, chúng tôi đã có dịp đưa ra trong bài viết "Cõi âm nhìn từ tín ngưỡng dân gian và giáo lý đạo Phật". Nhân ngày Thành đạo, xin đươc nhắc lại 6 yếu tố này của Giáo sư người Mỹ (chuyên nghiên cứu về tôn giáo) để chúng ta cùng suy ngẫm về giáo lý đạo Phật.

Từ góc nhìn của người nghiên cứu tôn giáo nói chung. Hoiston Smith cho rằng: "Tất cả tôn giáo trên thế giới đều gom tụ 6 yếu tố như sau:

1- Quyền uy
2- Nghi thức
3- Tri giải suy lường
4- Truyền thống
5- Thần trị và ân điển
6- Huyền bí.

"Về tôn giáo của nhân loại, sáu yếu tố này đã phát huy được tác dụng quan trọng của nó. Nhưng mọi yếu tố đều có thể bị mất đi sự không chế mà nảy sinh tệ đoan, tệ đoan này khiến thực trạng của tôn giáo ngày một hoang tàn, từ sai làm dẫn đến chỉ quanh quẩn nơi mê tín."

Và khi đề cập về giáo lý đạo Phật (qua nghiên cứu tôn giáo nhân loại) Giáo sư Huston Smith cho rằng: "Phật Thích Ca quyết tâm rửa sạch khoảng đất hoang tàn này và Phật giáo đối với sáu yếu tố trên chẳng hề sự liên quan nên khiến người đời kinh sợ. Bởi vì theo thói quan sát của người đời thì hễ tôn giáo nào thiếu mất sáu yếu tố trên đều chẳng thể tồn tại. Nhưng sự thật lại được chứng minh cụ thể như sau:

- Đức Phật hoằng dương một tôn giáo chẳng có: Quyền uy; chẳng (câu lệ) Nghi thức; chẳng dùng tư tưởng suy lường tri giải; vô truyền thông (tức truyền thống hủ lậu) và một tôn giáo chẳng có huyền bí".

Từ 6 yếu nêu trên, nhân ngày Thành đạo mồng Tám tháng Chạp (AL) năm nay, chúng tôi muốn nêu ra đây bài viết của HT. Thanh Từ đề cập về "Những sai lầm thường gặp của một số Phật tử về Phật giáo" trên trang (phatgiao.org.vn). Đây là bài viết mới đây (3 kỳ) với nội dung chúng tôi coi đây là lời tâm huyết của HT, và rất bổ ích. Xin được lược trích dưới đây để bạn đọc và đạo hữu chúng ta cùng suy ngẫm sẻ chia:
Theo HT. Thanh Từ hiện nay có hai thái độ nhìn nhận về Phật giáo: Một bên nặng về phần tín ngưỡng, thiên về hình thức cung kính, quên lặng phần tự tu, không chịu học hỏi giáo lý. Một bên thiên về triết lý, chú mục vào lý luận, bỏ sót phần tín ngưỡng.

Phật giáo còn tồn tại đến ngày nay là do bao trùm cả triết lý và tín ngưỡng. Nếu bỏ mất một trong hai phần thì Phật giáo không còn là Phật giáo nữa. Cho nên những người chấp một cách cực đoan trong hai thái độ trên đều là sai lầm. Để chỉ ra những thái độ cực đoan HT cho rằng:

Những sai lầm thường gặp của các Phật tử bình dân.

"Người Phật tử bình dân vì thiếu phương tiện học hỏi chánh pháp nên không phân biệt được Phật giáo và Thần giáo. Người tu theo đạo Phật phải có tinh thần để cải đổi những tâm niệm, hành vi, ngôn ngữ sai lầm trở thành chân chánh. Chính khi đứng chắp tay lễ Phật hay tụng kinh, chúng ta cũng thấy biểu lộ đầy đủ ý nghĩa này.

Người bình dân vì thiếu phương tiện học hỏi nên không phân biệt được Phật giáo và Thần giáo. Phật giáo là nền giáo lý cao sâu, nếu không phải người giầu suy tư nhiều chiêm nghiệm thì không sao thấu đạt nổi. Người bình dân thời giờ hiếm hoi, tâm hồn bình dị, làm sao hiểu thấu được những lẽ siêu thoát của Phật dạy. Do đó, họ có những sự tin hiểu sai lầm như sau:

Họ thiên về hình thức nghi lễ: đến với Phật giáo chú trọng nhiều về hình thức lễ nghi. Quy y là để khi nào bệnh nhờ thầy cầu an, khi chết nhờ thầy cầu siêu. Cho nên trong gia đình có đứa bé ấm đầu là chạy thỉnh thầy trụ trì về nhà cầu an. Hoặc trong thân quyến có tang, đến ngày tuần thất thì thỉnh thầy về nhà tụng kinh suốt đêm. Vào chùa, bất cứ bàn thờ Phật hay bàn thờ vong đều hì hục lễ bái và lâm râm khấn nguyện. Cứ tin rằng lạy càng nhiều thì phước càng lớn.

Đi chùa những ngày sóc, vọng để cúng kính lễ bái, ngoài ra không cần biết gì nữa. Họ quan niệm tu hành rất giản dị, ai thường cúng kính là người đó tu nhiều. Ông thầy trụ trì nào thường tổ chức cầu siêu, cúng cô hồn, cúng sao...là ông thầy ấy tu hành tinh tấn. Người Phật tử nào bỏ tiền nhiều, xin lễ này, tổ chức lễ nọ cho là người Phật tử thuần thành chân chính. Xuất tiền in kinh ấn tống thì chọn ròng rặt các nghi thức cầu an, cầu siêu, kinh Tam bảo, Địa Tạng v.v...Nếu ai giới thiệu ấn tống quyển "lịch sử Phật giáo" cần thiết hoặc "những bài giảng" có giá trị thì họ lắc đầu từ chối, bảo rằng, "ấn tông sách đó thì ít phước!". Bởi nhận định này nên Phật giáo càng ngày càng đi sâu vào hình thức nghi lễ.

Tin Phật như vị Thần linh: người bình dân đến với đức Phật để cầu ban phước, che chở, ủng hộ hơn là tìm giác ngộ. Người ta nghĩ rằng: có tai nạn cầu Phật, Phật sẽ cứu độ cho. Vì vậy ngày bình thường không đến chùa, chờ khi cần cầu xin việc gì mới mang hương đăng đến chùa cầu nguyện. Thật là: "Hữu tật thì bái tứ phương/Vô tật đồng hương chẳng mất; hoặc Nghiêng vai ngửa vái Phật trời/Đương cơn hoạn nạn độ người trầm luân.

Quan niệm Phật như vị Thần linh chỉ coi việc ban phước, giáng họa. Vì vậy, người ta không ngại gặp Phật thì cúng, gặp Thần thì lạy, gặp ma quỷ thì cầu xin. Bởi trên cương vị ban phước giáng họa, họ không phân biệt đâu là trọng đâu là khinh, miễn vị nào đem lại được những điều cầu nguyện cùa họ là linh thiêng, bằng không thì hết linh ứng. Hết linh ứng thì họ bỏ không theo nữa. Do đó, trong dân gian những cốt cô, cốt cậu đều được phật tử tín ngưỡng quy y. Vì những cô cậu ấy đã báo cho họ biết những tai nạn sắp đến và đã cho bùa chú để họ dán trong nhà khiến con cháu mạnh giỏi, làm ăn phát đạt. Niềm tin Phật như vậy, họ rất dễ tin mà cũng dễ bỏ, nếu sở nguyện họ thành hoặc không toại nguyện".

Sai lầm của Phật tử nặng về triết lý.

Người trí thức thiên trọng phần triết lý nên thấy sự lễ bái, cúng dường, cầu nguyện...đều không chấp nhận, mà lại phản đối. Cho rằng Phật giáo hoàn toàn tự lực, không bao giờ nương tựa vaofcais gì bên ngoài. Nếu Phhatj giáo chỉ dạy một bề như thế thì những người đầy đủ ý chí, giàu nghị lực mới tu được, còn những người thiếu ý chí, kém nghị lực không thể tu theo đạo Phật sao? Như thế, Phật giáo không có ý nghĩa khế cơ rồi. Vì hạng người đầy đủ ý chí, giàu nghị lực rất hiếm trong xã hội này. Cho nên, cái nhìn cực đoan như vậy đưa Phật giáo đến chỗ khô khan, cô quạnh. Bởi nơi mỗi con người chúng ta đều có hai phần, tình cảm và lý trí.

Nếu có người chỉ thuần tình cảm,không có lý trí thì họ chìm đắm trong biển yêu thương mê hoặc. Ngược lại có người ròng rặt lý trí, không có tình cảm thì họ khô khan cô độc. con nguwowifvis như cây trồng xuống đất, tình cảm là chất nước, lý trí như ánh nắng. Thiếu một trong hai thứ ấy, cây nhất định không sinh trưởng được mà phải héo lần. Một tôn giáo cũng thế, lý trí và tín ngưỡng không thể thiếu một được. Nếu thiếu một tôn giáo ấy sẽ chết mòn. Cho nên chủ trương cực đoan về triết lý của giới trí thức này cũng là tai họa của phật giáo".

Vậy chúng ta thử xét ý nghĩa cúng dường, cầu nguyện có sai tinh thần Phật giáo hay không? Người Phật tử ai cũng biết lý nhân quả, thuyết vô ngã, vô trước là nền tảng của Phật giáo. Như thế sự cúng dường được phước có phản bội lý nhân quả chăng? Người này cầu nguyện, người kia được siêu độ có trái vô ngã hay không ?...

Vấn đề nêu trên, chúng ta thấy rất rõ hai thái độ của phật tử về Phật giáo song song tồn tại. Để giải quyết vấn đề này, HT. Thanh Từ cũng cho rằng: Muốn dung hòa cho thích hợp tinh thần Phật giáo, hai thái độ cực đoan trên phải hòa hợp lại. Phải dung hợp thấu đáo mọi khía cạnh thì sự tu tập mới thu hoạch được kết quả viên mãn, đúng với tinh thần trung đạo của Phật giáo.

Trong cuộc sống tương quan tương duyên này, chúng ta đừng nghĩ tưởng một cách giản dị rằng: "mình làm mình chịu". Quan niệm ấy rất thô sơ máy móc. Bởi sự ràng rịt giữa mình và xã hội phức tạp vô cùng. Xã hội đẹp mình cũng được ảnh hưởng đẹp và ngược lại. Tuy nhiên có một vài người thoát khỏi sự ràng rịt của xã hội, nhưng đó là bậc Thánh nhân.

Đến như việc tụng kinh cầu nguyện được siêu thoát cũng không có ý nghĩa một bề ỷ lại vào tha lực. Con người chúng ta được kết hợp bởi hai phần, tinh thần và vật chất. Người tâm hồn tán loạn thì tinh thần yếu đuối, bị vật chất chi phối. Những vị tâm hồn an tịnh thì tinh thần mạnh mẽ phi thường, làm chủ được vật chất. Như trong kinh nói "Chế tâm nhất xứ vô sự bất biện" nghĩa là (Kiềm tâm một chỗ việc gì cũng xong) (kinh Di Giáo). Một bằng chứng cụ thể, khi chúng ta có việc gì mừng quá, hay giận quá liền quyên đói. Lúc đó tâm chỉ nhớ vào việc để mừng, hoặc giận mà quên đói. Cho nên có nhiều vị thiền sư khi chú tâm vào định năm bảy ngày mà không cần ăn uống, như Huệ Sinh thiền sư đời Lý và nhiều vị thiền sư khác...

Muốn dung hòa cho thích hợp tinh thần Phật giáo, hai thái độ cực đoan trên phải hòa hợp lại. Đừng nhìn một bên mà thành thiển cận. Nếu còn mắc kẹt một bên, dù học Phật, tụng kinh Phật vẫn thuộc về tà đạo...Bài viết của Thiền sư Thanh Từ nêu nhiều vấn đề tâm huyết về Phât giáo, ở đây chúng tôi chỉ xin lược trích, nếu bạn đọc và đạo hữu nào muốn tìm hiểu chi tiết hơn loạt bài viết này của HT, xin đọc thêm các bài liên quan.

Còn bây giờ, chúng ta trở lại với nhận định trên của giáo sư người Mỹ - Hoiston Smith với 6 yếu tố căn bản của tôn giáo vừa đề cập chúng ta thấy đạo Phật hoàn toàn khác với các tôn giáo nói chung trên thế giới. Bởi theo dấu chân Phật và giáo lý của Ngài, chúng ta vẫn hoằng dương một tôn giáo chẳng có Quyền uy; chẳng câu lệ về Nghi thức; Suy lường tri giải; chằng có Thần trị và Huyền bí, đúng như sự đánh giá nhận định của Giáo sư Hoiston Smith.

Để minh chứng thêm cho nhận định này của giáo sư người Mỹ, chúng ta cùng suy ngẫm thêm một nhận định nữa của một học giả Tây phương, đó là Giáo sư sử học Rhys Dvid nhận xét vầ Phật giáo như thế này: "Tôn giáo mà Đức Phật dựng nên không phải là một hệ thống tín ngưỡng và tôn sùng lễ bái, trung thành với một thần linh siêu nhiên (nhất thần luận mang tính thần quyền). Niềm tin người Phật tử đặt vào đức Phật cũng giống như người bệnh đặt niềm tin vào vị lương y tài giỏi, hay niềm tin của người học trò đặt tron vẹn nơi thầy.

Mặc dù nương tựa nơi đức Phật và tôn trọng Ngài là vị hướng đạo sư, là thầy dẫn dắt trên con đưởng giải thoát, người Phật tử không quy phục (và Ngài cũng không đòi hỏi quy phục) mù quáng như ke nô lệ. Mà người Phật tử nương tựa theo giáo pháp của Ngài tự nỗ lực để đạt đến giác ngộ giải thoát. Với long tin đức tin vào giáo lý đạo Phật, Giáo sư Rhys Dvid còn cho rằng: "Dẫu là Phật tử hay không phải Phật tử, tôi nghiên cứu từng hệ thống tôn giáo lớn trên thế giới, trong tất cả tôi không tìm thấy một tôn giáo nào có ve đẹp hoàn hảo hơn Tứ diệu đế và Bát chánh đạo của đức Phật. Tôi chỉ còn một việc làm là thu xếp nếp sống cho phù hợp với con đường ấy".

Để thay cho lời kết bài viết nhỏ này, nhân Ngày Thành đạo của Đức Bổn sư Thích Ca Văn, con xin phép Tổ thầy cùng bạn đạo hữu được trích lời nói cuối cùng trước khi nhập diệt của Đức Phụ. Và đây cũng là dịp để chúng ta có thêm một lần đảnh lễ nhớ lại thâm ân mà Ngài đã chỉ dạy: "Sau khi ta tịch diệt, Đạo Pháp thay ta làm vị thầy cho các con. Biết noi theo Đạo Pháp, ấy chính là cách con tỏ lòng trung thành với ta. Trong bốn mươi lâm năm sau cùng trong cuộc đời giáo hóa của ta, ta không hề dấu diếm điều gì trong những lời giáo huấn. Chẳng có một lời giáo huấn nào bí mật, không có một lời nào mang ẩn ý. Tất cả những lời giảng của ta đều được đưa ra một cách ngay thật và minh bạch".

Khắc ghi lời nói trên của Đức Từ Phụ, là Phật tử chúng ta nguyện hứa với lòng mình luôn luôn giữ gìn trong sạch Ngôi nhà chánh pháp. Đó là nén tâm hương hồi hướng sám nguyện của người con Phật trên bước đường tìm vế giác ngộ - giải thoát.

Bài viết: "Nhân ngày Thành Đạo nghĩ về Phật giáo hiện nay"
Nguyễn Đức Sinh/ Vườn hoa Phật giáo

Tài liệu tham khảo:

- Bài: Yếu chỉ Phật pháp - Thiền sư Duy Lực (phatgiao.org.vn - 20/4/2017)

- Bài: Những sai lầm thường gặp của một số phật tử về Phật giáo -HT. Thích Thanh Từ (phatgiao.org.vn gồm 3 bài -cập nhật bài thứ nhất, thứ năm ngày 22/11/2018. Bài tiếp theo 30/11/2018 và bài cuối 1/12/2018)

- Bài: Những lời dạy cuối cùng của đức Phật - Khôi Trân - (Báo Điện tử ĐPNN - ngày 28 tháng 7 năm 2013)